Việc nghiên cứu, làm rõ đặc điểm của các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đánh giá tình hình tội phạm, là cơ sở để đề xuất các giải pháp phòng chống hiệu quả đối với loại tội phạm này trong thời gian tới.
1. Đặc điểm của các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện
Theo thống kê, từ năm 2018-2023, trên toàn quốc đã phát hiện, khởi tố hơn 950 vụ án, với gần 2.800 bị can về các tội phạm xuất nhập cảnh, phần lớn được thực hiện bởi công dân Việt Nam (chiếm 93.5% số bị cáo)1. Các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện được quy định từ Điều 347 đến Điều 350 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) gồm: Tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh (Điều 347); Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (Điều 348); Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều 349); Tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều 350). Trên cơ sở nghiên cứu một số vụ án hình sự về tội phạm xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện, có thể khái quát các đặc điểm của loại tội phạm này như sau:
- Khách thể:
Các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện xâm hại trực tiếp đến sự ổn định trong hoạt động quản lý Nhà nước về xuất nhập cảnh, đặt nạn nhân của tội phạm này vào các tình trạng vô nhân đạo và tính mạng bị đe doạ2; gây ra những tác động gián tiếp không hề nhỏ cho nền kinh tế (cạnh tranh việc làm, thu thuế...), sức khỏe cộng đồng, an toàn công cộng, an ninh trật tự và an toàn xã hội (quản lý cư trú, kiểm soát xuất nhập cảnh, sàng lọc tội phạm) và các nguy cơ tiềm tàng liên quan đến các tội phạm xuyên quốc gia.
- Hành vi phạm tội:
Các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện bao gồm nhiều loại hành vi, phân tích số vụ và số người phạm tội theo từng tội danh của nhóm tội phạm này cho thấy: Phổ biến nhất là hành vi tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (Điều 348) với 85,45% số vụ, 88,42% số bị cáo; tiếp theo đó là hành vi tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều 349) với 12,07% số vụ, 9,53% số bị cáo; chiếm một tỉ lệ rất nhỏ là hành vi vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh (Điều 347) với 2,48% số vụ, 2,05% số bị cáo; và không có trường hợp nào bị xử lý về hành vi cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều 350).
- Đối tượng phạm tội:
Các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện thuộc nhiều thành phần xã hội, có trình độ học vấn khác nhau, trong đó có những đối tượng có tiền án, tiền sự vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất nhập cảnh hoặc liên quan đến các tội phạm xuyên quốc gia và có thể phân loại thành các nhóm: Đối tượng chủ mưu, cầm đầu (chiếm 26,9%); đối tượng tham gia (chiếm 65,8%); đối tượng vi phạm quy định về xuất nhập cảnh (chiếm 7,3%), trong đó:
Đối tượng chủ mưu, cầm đầu thường cư trú ở nước ngoài hoặc sống ở gần khu vực biên giới, am hiểu về địa hình, tuyến đường đi lại và nắm rõ quy luật tuần tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng, giữ vai trò chỉ đạo, điều hành hoạt động phạm tội của đường dây và thường không tham gia trực tiếp vào việc đưa người xuất nhập cảnh trái phép.
Đối tượng tham gia chủ yếu cư trú ở trong nước, làm nghề tự do (xe ôm, lái xe...), có trình độ học vấn thấp và thường không biết thông tin, lai lịch của đối tượng cầm đầu. Các đối tượng này chủ yếu thực hiện nhiệm vụ môi giới, lôi kéo, tập hợp người có nhu cầu xuất nhập cảnh, trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.
Đối tượng vi phạm quy định về xuất nhập cảnh phần lớn là lao động phổ thông, có trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo nghề, thậm chí là không biết chữ, nhiều người là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, một số đối tượng có quan hệ thân thuộc, quen biết với các đối tượng tổ chức, môi giới.
Khảo sát cho thấy, phần lớn các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội về xuất nhập cảnh tập trung vào nhóm người có độ tuổi từ 35 - 50 tuổi (chiếm 63,2%) - là người đang trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tìm kiếm việc làm, từ 17 - dưới 35 tuổi (chiếm 23,7%), còn lại là những nhóm tuổi khác. Đối tượng phạm tội chủ yếu là nam (chiếm 83,4 %), bởi loại tội phạm này có tính nguy hiểm cao, di chuyển ở nhiều địa bàn, địa hình phức tạp, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của nam giới; phần lớn người phạm tội có trình độ học vấn thấp; do đó, có những hạn chế nhất định về hiểu biết pháp luật, khó có điều kiện tiếp cận với các thị trường lao động chính thống, muốn tìm kiếm các đường dây xuất nhập cảnh trái phép nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian.
- Địa bàn, thời gian phạm tội:
Các vụ án về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện thường xảy ra trên địa bàn rộng, liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố kể cả địa bàn ở nước ngoài3. Loại tội phạm này chủ yếu lựa chọn các địa bàn ở khu vực biên giới, giáp biên để thuận tiện cho việc dẫn người qua biên giới, trong đó: Đường bộ (Lạng Sơn, Quảng Ninh, Tây Ninh, An Giang...) chiếm 73,2% số vụ; đường sông hoặc đường biển (Quảng Ninh, Kiên Giang...) chiếm 18,4% số vụ và đường hàng không chiếm 8,4% số vụ. Các địa bàn đường rừng, đường biên giới, đường sông, đường biển được các đối tượng ưu tiên lựa chọn bởi có địa hình phức tạp, thuận lợi cho việc đưa đón, tập kết người, có điều kiện trốn tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng. Cùng với đó, để tránh bị phát hiện và qua mặt các lực lượng chức năng, các đối tượng thường lựa chọn các “khung giờ vàng” để thực hiện tội phạm, chủ yếu là buổi tối (chiếm 54,3%) hoặc buổi trưa (chiếm 33,4%), bởi thời điểm này lực lượng chức năng thường thay ca hoặc có những khó khăn nhất định trong công tác phát hiện, xử lý tội phạm.
- Phương thức, thủ đoạn:
Phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi tổ chức, môi giới: Để tránh bị nghi ngờ, phát hiện, các đối tượng phân chia từng nhóm nhỏ với nhiệm vụ khác nhau (nhóm môi giới, lôi kéo các đối tượng có nhu cầu xuất nhập cảnh; nhóm đưa đón, vận chuyển, dẫn dắt người qua biên giới, lối mòn trốn đi nước ngoài; nhóm bố trí ăn ở, sinh hoạt)... Hành vi phạm tội được tiến hành bằng cả hình thức hợp pháp hoặc kết hợp hình thức hợp pháp với bất hợp pháp, trong đó hình thức bất hợp pháp chiếm vẫn chiếm đa số (75,6%)4.
Phương thức, thủ đoạn liên lạc: Các đối tượng chủ yếu lợi dụng mạng internet, mạng xã hội (viber, zalo, facebook...) để thực hiện liên lạc, môi giới xuất nhập cảnh trái phép và chỉ một số vụ án với tính chất đơn giản được thực hiện bởi những phương thức truyền thống như gặp mặt trực tiếp, gọi viễn thông. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng tiếng lóng, tài khoản ảo, “sim rác” để liên lạc, dùng tài khoản ngân hàng không chính chủ, sử dụng các dịch vụ thanh toán di động, ví điện tử nhằm che giấu hành vi phạm tội, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, xử lý của cơ quan chức năng.
- Hình thức phạm tội:
Các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện chủ yếu được thực hiện dưới hình thức đồng phạm (chiếm 61,5%), thường là đồng phạm giản đơn, nhưng cũng có trường hợp đồng phạm phức tạp, có tổ chức. Có sự móc nối, liên kết giữa các đối tượng trong nước với nước ngoài (chiếm 95%), cá biệt có những trường hợp hình thành các đường dây phạm tội xuyên quốc gia5. Do đó, hoạt động điều tra, xử lý tội phạm phụ thuộc rất lớn vào công tác phối hợp giữa các lực lượng và hoạt động hợp tác quốc tế.
- Động cơ phạm tội:
Phần lớn các vụ án về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện xuất phát từ động cơ vụ lợi (chiếm 90,5%), phổ biến nhất là vì tiền, một số thực hiện vì động cơ khác như: Thăm thân, khám chữa bệnh, tránh dịch, cá biệt có trường hợp để trốn truy nã hoặc để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác6.
2. Giải pháp phòng, chống các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện
Trên cơ sở phân tích, làm rõ đặc điểm của các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống loại tội phạm này trong thời gian tới như sau:
Một là, giải quyết vấn đề an ninh xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí và nhận thức về các tội phạm xuất nhập cảnh.
Nghiên cứu đặc điểm đối tượng, động cơ của các tội về xuất nhập cảnh cho thấy, các nguyên nhân từ kinh tế - xã hội (thất nghiệp, thiếu việc làm, trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật...), động cơ vụ lợi là những nguyên nhân chính của loại tội phạm này. Do đó, tập trung giải quyết các vấn đề an ninh xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí và nhận thức về phòng, chống các tội phạm xuất nhập cảnh là một trong những giải pháp có ý nghĩa quan trọng, triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện hình thành tội phạm này.
Để làm được điều này, cần có các chính sách hỗ trợ việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập qua dạy nghề, cho vay vốn, giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo... cho người dân, đặc biệt là các địa bàn trọng điểm, phức tạp liên quan đến các tội phạm xuất nhập cảnh; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, tay nghề, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, kĩ thuật trong cuộc Cách mạng 4.0; có những cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của người dân, quan tâm các chế độ, chính sách, an sinh xã hội, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, không để các đối tượng có cơ hội lôi kéo, dụ dỗ người dân tham gia vào đường dây phạm tội hoặc biến họ trở thành nạn nhân của các tội phạm mua bán người, xuất nhập cảnh trái phép. Bên cạnh đó, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động hợp pháp, gắn liền với định hướng, giáo dục nghề nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận, nắm bắt thông tin, tư vấn việc làm từ các doanh nghiệp, công ty xuất khẩu lao động có khả năng, có uy tín.
Hai là, tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong phòng, chống các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện.
Như đã phân tích, phần lớn nạn nhân, đối tượng thực hiện các tội phạm về xuất nhập cảnh có trình độ học vấn, hiểu biết về pháp luật hạn chế. Do đó, nâng cao ý thức pháp luật, nhận thức đầy đủ tính nguy hiểm, hậu quả của tội phạm là một nội dung hết sức quan trọng, góp phần đẩy lùi các nguyên nhân, điều kiện phát sinh loại tội phạm này.
Để đạt hiệu quả, cần tập trung tuyên truyền người dân, đặc biệt là những đối tượng có nguy cơ bị dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo tham gia các đường dây phạm tội về xuất nhập cảnh về: Đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tội phạm xuất nhập cảnh, di cư bất hợp pháp; các chương trình, kế hoạch hợp tác quốc tế trong xuất khẩu lao động, giải quyết việc làm, chính sách hồi hương; phương thức, thủ đoạn, tính chất nguy hiểm và hậu quả của tội phạm xuất nhập cảnh; trách nhiệm, ý thức cảnh giác trong phòng, chống tội phạm...
Ba là, hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện.
Với tính chất là loại tội phạm xuyên quốc gia, hành vi của các tội phạm về xuất nhập cảnh tương đối phức tạp và có sự giao thoa, “chồng lấn” trong cấu thành của các tội phạm về xuất nhập cảnh. Điều này đã gây không ít khó khăn, vướng mắc cho công tác điều tra, xử lý tội phạm. Do đó, để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác phòng, chống tội phạm, cần nghiên cứu, sửa đổi một số quy định của luật hình sự về các tội phạm xuất nhập cảnh như sau:
Cần có hướng dẫn chính thức về định tội danh, xác định thời điểm tội phạm hoàn thành đối với Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép (Điều 348) và Tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép (Điều 349)7 hoặc phải có thông tư liên ngành liên quan đến xử lý đối với vấn đề này8.
Quy định cụ thể để phân định xử lý hình sự và xử phạt hành chính đối với hành vi tổ chức, môi giới cho người khác xuất nhập cảnh, ở lại nước ngoài, ở lại Việt Nam trái phép, khi hành vi này vừa được quy định tại Điều 348, 349 BLHS năm 20159 và tại điểm đ khoản 7 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.
Xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại trong trường hợp sử dụng danh nghĩa công ty để thực hiện các hành vi tổ chức, môi giới (đưa dẫn, chuyên chở, giới thiệu...) cho người khác xuất nhập cảnh hoặc trốn đi nước ngoài trái phép để tránh bỏ lọt tội phạm, đáp ứng thực tiễn đấu tranh, xử lý loại tội phạm, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật10.
Bốn là, nâng cao hiệu quả phối hợp lực lượng, hợp tác quốc tế trong phòng, chống các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện.
Các tội phạm về xuất nhập cảnh với tính chất là loại tội phạm xuyên quốc gia, phạm vi hoạt động rộng, liên quan đến nhiều địa bàn, có sự câu kết, móc nối chặt chẽ giữa các đối tượng trong nước và nước ngoài. Do đó, hiệu quả của công tác đấu tranh, xử lý tội phạm phụ thuộc rất lớn vào hoạt động phối hợp lực lượng, hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm.
Trong thời gian tới, cần đẩy mạnh phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Công an với Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài trong trao đổi thông tin, tài liệu, tình hình vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam. Bên cạnh đó, cần tiếp tục thực hiện tốt quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong điều tra, xử lý, tuyên truyền pháp luật liên quan đến phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, trong đó có các tội phạm về xuất nhập cảnh. Xây dựng cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu, thông tin hiệu quả giữa các đơn vị; phục vụ công tác phân tích, đánh giá tình hình tội phạm.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng, chống các tội phạm về xuất nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện, cần thúc đẩy triển khai thực hiện các thỏa thuận, biên bản ghi nhớ về hợp tác quốc tế trong quản lý xuất nhập cảnh, phòng chống di cư bất hợp pháp; thiết lập đầu mối, đường dây liên lạc với các quốc gia nhằm trao đổi thông tin, tình hình xuất nhập cảnh, các hoạt động vi phạm xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam. Nghiên cứu, thiết lập mạng lưới sĩ quan liên lạc xuất cảnh đặt tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, nơi có đông công dân Việt Nam sinh sống, làm việc để kịp thời trao đổi, xử lý các vụ việc liên quan đến xuất nhập cảnh. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn cho đội ngũ làm công tác quản lý xuất nhập cảnh. Ngoài ra, cân nhắc tham gia diễn đàn không chính thức, tham vấn liên chính phủ về di cư, lánh nạn và tị nạn (IGC) để trao đổi thông tin, giải quyết các vấn đề về quản lý dòng di cư quốc tế.
Năm là, nhanh chóng xác minh điều tra, xử lý các tội phạm về xuất cảnh, nhập cảnh do công dân Việt Nam thực hiện.
Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, đặc điểm hình sự các tội phạm về xuất nhập cảnh đã tạo ra những trở ngại, khó khăn nhất định cho công tác điều tra, xử lý tội phạm như: Xác định đặc điểm, nhân thân người phạm tội; xây dựng hồ sơ, lập biên bản, xác minh thông tin ban đầu; thu thập tài liệu, chứng cứ, nhất là dữ liệu điện tử... Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, xử lý loại tội phạm này, thời gian tới, cần làm tốt các nội dung sau:
Đối với công tác phát hiện, điều tra ban đầu, cần tích cực, nhanh chóng xác minh để xác định đối tượng chủ mưu, cầm đầu, mở rộng điều tra; khống chế thông tin liên lạc, kiểm tra, khai thác các tài liệu, chứng cứ thu thập được, đặc biệt là dữ liệu điện tử. Đồng thời, xây dựng kế hoạch bắt, khám xét với nhiều phương án, chiến thuật khác nhau nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, phương tiện, biện pháp mở rộng vụ án; tăng cường công tác điều tra cơ bản, nắm tình hình, quản lý chặt chẽ các đối tượng trên địa bàn, nhất là địa bàn trọng điểm, đối tượng có tiền án, tiền sự liên quan đến các tội phạm về xuất nhập cảnh; mở rộng các đợt cao điểm đấu tranh, xử lý các tội phạm xuyên quốc gia, trong đó có các tội phạm liên quan về xuất nhập cảnh. Ngoài ra, Cơ quan điều tra cần luôn chủ động phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin, bảo đảm tính khách quan, toàn diện trong quá trình điều tra, làm rõ vụ án.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công an (2022), Kỷ yếu Hội thảo Công tác điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến xuất, nhập cảnh, Quy Nhơn.
2. Lê Hồng Thái (2021), Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn điều tra hình sự của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, Kỷ yếu Hội thảo cấp Bộ, Trường Đại học An ninh nhân dân.
3. Mai Thị Thanh Nhung (2023), Các tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép... theo pháp luật hình sự Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Đại học Luật Hà Nội.
4. Nguyễn Thị Thanh Thuỳ, Hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội phạm liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh, Tạp chí Kiểm sát, số 12/2023.
5. Trần Văn Hậu, Một số vướng mắc trong định tội danh Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép và Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép theo quy định của Bộ luật Hình sự, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 04/2024.
6. Ủy ban Soạn thảo hướng dẫn chính sách Tiến trình Bali (2014), Hướng dẫn chính sách về hình sự hóa Đưa người di cư trái phép.
1. Vụ thống kê - tổng hợp Tòa án nhân dân tối cao, Số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao từ năm 2018 - 2023.
2. Ủy ban Soạn thảo hướng dẫn chính sách Tiến trình Bali, Hướng dẫn chính sách về hình sự hóa đưa người di cư trái phép, 2014, tr.2.
3. Bộ Công an, Một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất tháo gỡ trong điều tra các vụ tổ chức, môi giới cho người khác xuất nhập cảnh trái phép, Kỷ yếu Hội thảo công tác điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến xuất, nhập cảnh, Quy Nhơn, 2022, tr.136.
4. Bộ Công an, Báo cáo trung tâm, Kỷ yếu Hội thảo công tác điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến xuất, nhập cảnh, Quy Nhơn, 2022, tr.14.
5. Mai Thị Thanh Nhung, Các tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép... theo pháp luật hình sự Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2023, tr.31.
6. Bộ Công an, Báo cáo trung tâm, tlđd, tr.12.
7. Nguyễn Thị Thanh Thùy, Hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội phạm liên quan đến xuất, nhập cảnh, Tạp chí Kiểm sát, số 12/2023, tr.24.
8. Lê Hồng Thái, Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn điều tra hình sự của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, Kỷ yếu Hội thảo cấp Bộ, Trường Đại học An ninh nhân dân, 2022.
9. Trần Văn Hậu, Một số vướng mắc trong định tội danh Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép và Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép theo quy định của Bộ luật Hình sự, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 04/2024.
10. Lê Hồng Thái, tlđd.
(Nguồn: Tạp chí Kiểm sát)
13/12/2025
Chia sẻSự thiếu thống nhất giữa nghĩa vụ chứng minh và quyền tiếp cận chứng cứ dẫn đến việc người khởi kiện không thể tự thu thập chứng cứ đang do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức khác lưu giữ, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền khởi kiện và tiến trình tố tụng. Từ phân tích quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tại Tòa án, bài viết đề xuất hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền tiếp cận chứng cứ của người khởi kiện từ giai đoạn nộp đơn.
12/12/2025
Chia sẻViệc xác định đúng đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính có ý nghĩa quyết định đối với khả năng Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, bảo đảm quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức.
01/12/2025
Chia sẻTrong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án thu thập chứng cứ do đương sự và các chủ thể khác cung cấp, chủ động thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, trong đó có thẩm định tại chỗ về bất động sản. Thực tiễn thực hiện quy định về trình tự, thủ tục thẩm định tại chỗ về bất động sản trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nảy sinh một số bất cập, vướng mắc cần đánh giá để sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật và thống nhất trong áp dụng.
27/11/2025
Chia sẻBài viết tập trung phân tích các quy định về di chúc ghi âm, ghi hình trong Bộ luật Dân sự Trung Quốc năm 2020, chỉ ra ưu điểm của hình thức di chúc này, từ đó đề xuất những gợi mở để hoàn thiện chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam.
14/11/2025
Chia sẻThực tiễn trong công tác thi hành án phạt tù đã phát sinh một số bất cập, vướng mắc trong quy định của pháp luật, cần tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án phạt tù nói riêng, công tác thi hành án hình sự nói chung; góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
13/11/2025
Chia sẻVật chứng là một trong những nguồn chứng cứ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thực tiễn quá trình áp dụng pháp luật cho thấy việc xác định vật chứng chưa thống nhất. Qua bài viết, tác giả phân tích một số quan điểm liên quan đến việc xác định vật chứng, từ đó đề xuất giải pháp áp dụng pháp luật thống nhất về căn cứ xác định vật chứng.