Giá trị chứng minh của chứng cứ trong trường hợp bị cáo không nhận tội

Giá trị chứng minh của chứng cứ trong trường hợp bị cáo không nhận tội

Ngày 03-02-2026 Lượt xem 58

TAND Khu vực 13 - Hải Phòng vừa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo N.V.S (SN 1993, trú tại xã Bắc Thanh Miện, Hải Phòng) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Do vụ án có tính chất phức tạp, bị cáo không nhận tội, có 04 luật sư tham gia bào chữa, phiên tòa được tổ chức theo hình thức phiên tòa rút kinh nghiệm, kết hợp trình chiếu tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa nhằm nâng cao chất lượng xét xử và kỹ năng tranh tụng.

1. Diễn biến hành vi phạm tội 

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, bị cáo N.V.S là người nghiện ma túy. Ngày 08/3/2025, bị cáo mua ma túy của T.V.K (trú tại xã Phú Thái, Hải Phòng) nhằm mục đích bán lại để kiếm lời.

Trong các ngày 09 và 10/3/2025, bị cáo đã hai lần bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho B.L.T (SN 1987, trú tại xã Nguyễn Lương Bằng, Hải Phòng) với tổng số tiền 1.100.000 đồng. Ngoài số ma túy đã bán, bị cáo còn cất giấu 11,144 gam Methamphetamine để tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện, bắt quả tang vào ngày 10/3/2025.

2. Quan điểm của bị cáo và người bào chữa

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo N.V.S không thừa nhận hành vi phạm tội, cho rằng mình bị oan, không thừa nhận số ma túy thu giữ là của mình cũng như việc đã hai lần bán ma túy cho B.L.T. Bị cáo cho rằng trong giai đoạn điều tra đã bị ép cung, dùng nhục hình và cho rằng đại diện Viện kiểm sát có vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án.

Người bào chữa cho bị cáo cho rằng tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án chưa đầy đủ, còn mâu thuẫn, đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

3. Lập luận, đánh giá chứng cứ của Kiểm sát viên

Trước các quan điểm bào chữa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đã phân tích, đánh giá toàn diện hệ thống chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bao gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai ban đầu của bị cáo tại Cơ quan điều tra có sự tham gia của Viện kiểm sát; lời khai của người liên quan, người làm chứng; bản tường trình, sơ đồ hiện trường do chính bị cáo vẽ và các tài liệu, chứng cứ khác.

Kiểm sát viên khẳng định quá trình điều tra, truy tố được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các chứng cứ được thu thập hợp pháp, khách quan, có sự phù hợp, thống nhất với nhau. Việc bị cáo thay đổi lời khai, không nhận tội tại phiên tòa không làm mất giá trị chứng minh của các chứng cứ đã được thu thập và kiểm tra công khai. Trên cơ sở đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng.

 

4. Nhận định pháp lý của Hội đồng xét xử

Sau khi xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án; kết quả xét hỏi và tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định có đủ căn cứ xác định bị cáo N.V.S đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy như Cáo trạng đã truy tố.

Hội đồng xét xử cho rằng, trong tố tụng hình sự, lời nhận tội của bị cáo không phải là căn cứ duy nhất để xác định sự thật vụ án. Việc chứng minh tội phạm phải dựa trên việc đánh giá tổng hợp các chứng cứ được thu thập hợp pháp, khách quan, có mối liên hệ chặt chẽ và được kiểm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa. Các ý kiến cho rằng bị cáo bị ép cung, dùng nhục hình không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận; đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung là không cần thiết.

5. Quyết định của Tòa án

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo N.V.S 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của pháp luật.

Vụ án là minh chứng rõ nét cho nguyên tắc tranh tụng trong xét xử hình sự, đồng thời khẳng định rằng việc bị cáo không nhận tội không làm thay đổi sự thật khách quan của vụ án khi hệ thống chứng cứ đã đầy đủ, hợp pháp và được đánh giá công khai tại phiên tòa. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng xét xử và hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay.

(Nguồn: Tạp chí Toà án nhân dân Điện tử)

Tìm kiếm
Kiến thức pháp luật
Kết nối
Tin liên quan
Một số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình

11/05/2026

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình về cơ bản đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, qua đánh giá quy định và thực tiễn áp dụng thì thấy còn tồn tại một số hạn chế, bất cập; từ đó đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng tốt hơn nữa đòi hỏi của thực tiễn. Bài viết này tập trung đánh gia quy định về một số tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của bên thứ ba trong hợp đồng tín dụng: Từ thực tiễn xét xử đến yêu cầu thống nhất áp dụng pháp luật

06/05/2026

Bài viết phân tích hai luồng quan điểm đang tồn tại trong thực tiễn xét xử về xác định phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của bên thứ ba trong hợp đồng tín dụng, đồng thời làm rõ cơ sở pháp lý, lý luận và thực tiễn nhằm khẳng định cách tiếp cận giới hạn phạm vi nghĩa vụ bảo đảm theo ý chí thực tế của bên thế chấp là phù hợp với tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015, góp phần bảo đảm công bằng trong giao dịch và hướng tới thống nhất áp dụng pháp luật.

Từ hồ sơ giấy đến hồ sơ vụ án điện tử: Những vấn đề đặt ra trong triển khai đề án chuyển đổi số trong tố tụng hình sự và thi hành án hình sự

08/04/2026

Bài viết tập trung phân tích việc chuyển đổi từ mô hình quản lý hồ sơ giấy sang hồ sơ vụ án điện tử trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự trên cơ sở Đề án chuyển đổi số được phê duyệt tại Quyết định số 422/QĐ-TTg. Nội dung bài viết làm rõ các nhóm nhiệm vụ trọng tâm của Đề án, bao gồm hoàn thiện thể chế, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, phát triển hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin, qua đó hình thành nền tảng cho việc vận hành tố tụng trên môi trường số...

Thủ tục đình chỉ khi người kháng cáo rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và một số vướng mắc khi áp dụng

03/03/2026

Thủ tục đình chỉ khi người kháng cáo rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng pháp luật về thủ tục để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với vụ án dân sự còn nhiều vướng mắc, chưa thống nhất.

Về việc xác định đối tượng khởi kiện trong trường hợp đương sự yêu cầu hủy Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

26/01/2026

Trong thời gian gần đây, Tòa án nhân dân các cấp thụ lý ngày càng nhiều vụ án hành chính mà trong đó đương sự yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thực tiễn giải quyết cho thấy, vẫn còn những quan điểm khác nhau trong việc xác định đối tượng khởi kiện của loại vụ án này, đặc biệt là việc xác định Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là quyết định hành chính hay chỉ là kết quả của một hành vi hành chính của cơ quan đăng ký kinh doanh.

Chứng cứ và chứng minh theo quy định của Bộ luật Hình sự và một số lưu ý khi áp dụng

22/01/2026

Quy định về chứng cứ và chứng minh đã được ghi nhận từ khá sớm trong pháp luật dân sự Việt Nam và ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cần hiểu đúng quy định về chứng cứ và chứng minh để bảo đảm sự chính xác, thống nhất.

Liên hệ wiget Chat Zalo Messenger Chat