Bàn về áp dụng điều kiện “đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã” theo quy định của Luật Phá sản hiện hành

Bàn về áp dụng điều kiện “đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã” theo quy định của Luật Phá sản hiện hành

Ngày 09-01-2026 Lượt xem 116

Theo quy định tại Điều 86 Luật Phá sản 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì điều kiện để Tòa án ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản như sau: “Kể từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản đến trước ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không mất khả năng thanh toán thì Tòa án nhân dân ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản”.

 

Theo khoản 1 Điều 4 của Luật Phá sản thì: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”.

Phân tích các quy định trên của Luật Phá sản, sau đây chúng tôi xin chia sẻ thêm một góc nhìn pháp lý trong việc Tòa án ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản từ một tình huống cụ thể:

Tình huống cụ thể: 

Công ty T có khoản nợ hơn 50 tỷ đồng đối với Công ty Q (gồm hơn 27 tỷ đồng nợ gốc và gần 23 tỷ đồng tiền lãi phát sinh). Do không được thanh toán trong thời gian dài, Công ty Q gửi đơn đề nghị TAND H mở thủ tục phá sản đối với Công ty T.

Ngày 25/1/2018 Tòa án nhân dân H ra Quyết định mở thủ tục phá sản Công ty T với lý do mất khả năng thanh toán, theo khoản 1 Điều 4 và khoản 2 Điều 42 Luật Phá sản năm 2014.

Theo khoản 3 Điều 28 và khoản 2 Điều 40 Luật Phá sản 2014, trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được thông báo thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp phải xuất trình cho Tòa án các hồ sơ như: báo cáo tài chính ba năm gần nhất, bản giải trình nguyên nhân mất khả năng thanh toán, bảng kê chi tiết tài sản, danh sách chủ nợ…

Quản tài viên cho biết trong quá trình xử lý Công ty T không hợp tác, chỉ cung cấp Báo cáo tài chính các năm 2022–2024 và nửa đầu 2025, không đồng ý cung cấp các giấy tờ tài liệu khác. Sau hơn 07 năm 06 tháng từ ngày TAND H mở thủ tục phá sản đến trước 30/9/2025, vì công tác kiểm kê tài sản, lập danh sách chủ nợ, người mắc nợ và danh sách người lao động của Công ty T, Tòa án không thể mở Hội nghị chủ nợ theo quy định.

Ngày 30/9/2025, TAND H ra Quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản đối với Công ty T. 

Dựa trên các quy định pháp luật hiện hành thì tác giả xin có thêm một góc nhìn như sau:

Theo các quy định của Luật Phá sản hiện hành thì có thể khẳng định: căn cứ và điều kiện duy nhất để Tòa án ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản là: doanh nghiệp, hợp tác xã không còn mất khả năng thanh toán trong thời gian Tòa án thụ lý, giải quyết thủ tục phá sản (doanh nghiệp, hợp tác xã không còn mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không còn các khoản nợ quá hạn trên 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán).

Đây là căn cứ và điều kiện duy nhất theo quy định hiện hành của Luật Phá sản để Tòa án raquyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản.

Trở lại với tình huống trên, Tòa án H đã ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản đối với Công ty T với các lý do và căn cứ:

- Không tổ chức được hội nghị chủ nợ;

- Công ty T không hợp tác cung cấp báo cáo tài chính, sổ sách chứng từ, hồ sơ tài sản…

- Có một số khoản nợ như nợ thuế, nợ của các chủ nợ Công ty chưa đồng ý chốt số nợ đó

- Công ty T có tổng gái trị tài sản theo Báo cáo tài chính vượt xa so với số nợ nên Công ty H có điều kiện trả nợ cho các chủ nợ.

….

Xét về góc độ thực tế, các lý do nêu trên cũng là những khó khăn trên thực tế dẫn đến quá trình giải quyết thủ tục phá sản tại Tòa án hết sức khó khăn và trở ngại, thậm chí nhiều trường hợp có thể nói là không thể giải quyết và ra quyết định tuyên bố phá sản được.

Thực ra, không chỉ trường hợp của Công ty T nêu trên mà trên thực tế giải quyết thủ tục phá sản, có rất nhiều tình huống và các trở ngại dẫn đến việc Tòa án, quản tài viên rất khó khăn để tiến hành thủ tục phá sản.

Do đó, Luật Phá sản hiện hành cũng đã có một số quy định để xử lý một số tình huống khó khăn, trở ngại nêu trên để Tòa án có thể tiếp tục tiến hành thủ tục phá sản, ví dụ:

Khoản 5 Điều 65 Luật Phá sản hiện hành quy định xử lý trường hợp doanh nghiệp, Hợp tác xã không hợp tác kiểm kê tài sản:“Trường hợp đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã và những người khác không hợp tác về việc kiểm kê tài sản hoặc cố tình làm sai lệch việc kiểm kê tài sản thì bị xử lý theo quy định”.

Khoản 3 Điều 80 Luật Phá sản hiện hành cũng có quy định xử lý trường hợp hội nghị chủ nợ không tổ chức được do không đủ số lượng chủ nợ tham gia: “Trường hợp triệu tập lại Hội nghị chủ nợ theo quy định tại khoản 2 Điều này mà vẫn không đáp ứng quy định tại Điều 79 của Luật Này thì thẩm phán lập biên bản và quyết định tuyên bố phá sản”.

Tuy là đã có một số quy định nêu trên để xử lý các vướng mắc phát sinh làm cản trở thủ tục giải quyết tại Tòa án như nêu trên nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề mà Luật Phá sản không quy định hoặc chưa có hướng dẫn thi hành trên thực tế dẫn đến sự lúng túng trong việc có hay không có cơ sở pháp lý khi ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản.

Đây là những nội dung tác giả nêu ra trong thực tiễn thi hành Luật Phá sản hiện hành để chúng ta lưu tâm trong quá trình xây dựng, bổ sung hoàn thiện và thi hành Luật Phá sản bảo đảm đúng quy định và hiệu quả.

(Nguồn: Tạp chí Toà án nhân dân Điện tử)

Tìm kiếm
Kiến thức pháp luật
Kết nối
Tin liên quan
Một số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình

11/05/2026

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình về cơ bản đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, qua đánh giá quy định và thực tiễn áp dụng thì thấy còn tồn tại một số hạn chế, bất cập; từ đó đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng tốt hơn nữa đòi hỏi của thực tiễn. Bài viết này tập trung đánh gia quy định về một số tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của bên thứ ba trong hợp đồng tín dụng: Từ thực tiễn xét xử đến yêu cầu thống nhất áp dụng pháp luật

06/05/2026

Bài viết phân tích hai luồng quan điểm đang tồn tại trong thực tiễn xét xử về xác định phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của bên thứ ba trong hợp đồng tín dụng, đồng thời làm rõ cơ sở pháp lý, lý luận và thực tiễn nhằm khẳng định cách tiếp cận giới hạn phạm vi nghĩa vụ bảo đảm theo ý chí thực tế của bên thế chấp là phù hợp với tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015, góp phần bảo đảm công bằng trong giao dịch và hướng tới thống nhất áp dụng pháp luật.

Từ hồ sơ giấy đến hồ sơ vụ án điện tử: Những vấn đề đặt ra trong triển khai đề án chuyển đổi số trong tố tụng hình sự và thi hành án hình sự

08/04/2026

Bài viết tập trung phân tích việc chuyển đổi từ mô hình quản lý hồ sơ giấy sang hồ sơ vụ án điện tử trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự trên cơ sở Đề án chuyển đổi số được phê duyệt tại Quyết định số 422/QĐ-TTg. Nội dung bài viết làm rõ các nhóm nhiệm vụ trọng tâm của Đề án, bao gồm hoàn thiện thể chế, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, phát triển hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin, qua đó hình thành nền tảng cho việc vận hành tố tụng trên môi trường số...

Thủ tục đình chỉ khi người kháng cáo rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và một số vướng mắc khi áp dụng

03/03/2026

Thủ tục đình chỉ khi người kháng cáo rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng pháp luật về thủ tục để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với vụ án dân sự còn nhiều vướng mắc, chưa thống nhất.

Giá trị chứng minh của chứng cứ trong trường hợp bị cáo không nhận tội

03/02/2026

TAND Khu vực 13 - Hải Phòng vừa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo N.V.S (SN 1993, trú tại xã Bắc Thanh Miện, Hải Phòng) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về việc xác định đối tượng khởi kiện trong trường hợp đương sự yêu cầu hủy Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

26/01/2026

Trong thời gian gần đây, Tòa án nhân dân các cấp thụ lý ngày càng nhiều vụ án hành chính mà trong đó đương sự yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thực tiễn giải quyết cho thấy, vẫn còn những quan điểm khác nhau trong việc xác định đối tượng khởi kiện của loại vụ án này, đặc biệt là việc xác định Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là quyết định hành chính hay chỉ là kết quả của một hành vi hành chính của cơ quan đăng ký kinh doanh.

Liên hệ wiget Chat Zalo Messenger Chat