Điều kiện, thủ tục bảo lãnh tại ngoại? Thời gian tại ngoại là bao lâu?

tinhhoa.net-PsRL0l-20160330-quy-dinh-bao-lanh-tai-ngoai-voi-nguoi-tinh-nghi-pham-toi-o-my

Điều kiện, thủ tục bảo lãnh tại ngoại? Thời gian tại ngoại là bao lâu? Những lưu ý khi làm thủ tục bảo lãnh tại ngoại theo quy định mới nhất.

Trong quá trình điều tra hay trong giai đoạn truy tố luật quy định cho phép cơ quan điều tra, viện kiểm sát ra quyết định tạm giam đối với bị can để phục vụ công tác điều tra, tránh tình trạng bị can bỏ trốn, không phối hợp với cơ quan điều tra hay viện kiểm sát. Tuy nhiên việc tạm giam chỉ được thực hiện khi có căn cứ theo quy định của luật và đồng thời trong quá trình tạm giam, người thân của bị can có thể thực hiện thủ tục bảo lãnh cho bị can tại ngoại, ra sinh hoạt trong cộng đồng. Tuy nhiên việc bảo lãnh tại ngoại phải đảm bảo các điều kiện nhất định và theo một trình tự, thủ tục được pháp luật ghi nhận. Hy vọng qua bài viết này, đội ngũ chuyên gia, luật sư của Luật Liên Việt sẽ giúp mọi người nắm rõ điều kiện, thủ tục cũng như các vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo lãnh tại ngoại cho bị can, bị cáo nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo.

Thứ nhất, khái niệm bảo lãnh, đặc điểm bảo lãnh:

Trong đời sống hàng ngày, ngôn ngữ thông thường mọi người hay nhận định bảo lãnh và bảo lãnh là hai từ đồng nghĩa, có ý nghĩa và khái niệm như nhau. Tuy nhiên về mặt ngôn ngữ pháp lý đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, được điều chỉnh tại hai ngành luật hoàn toàn khác nhau. Cụ thể bảo lãnh được quy định trong pháp luật dân sự là một biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng dân sự, giao dịch dân sự hay gọi chung là nghĩa vụ dân sự giữa các bên.

Tuy nhiên bảo lãnh được ghi nhận là một trong những biện pháp ngăn chặn thay thế cho việc tạm giam bao gồm bảo lãnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoãn việc xuất cảnh quy định tại khoản 1 Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Căn cứ vào các quy định của luật, khái niệm được rút ra như sau:

Bảo lãnh là một trong các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự, do cơ quan  có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với các bị can, bị cáo khi có đủ các căn cứ để thay thế biện pháp tạm giam, nhằm bảo đảm bị can, bị cáo không tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc không phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng.

Qua khái niệm nêu trên, ta có thể xác định được đặc điểm cơ bản của biện pháp bảo lãnh bao gồm:

– Bảo lãnh là một trong những biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng trong pháp luật tố tụng hình sự;

– Được áp dụng thay thế biện pháp tạm giam;

– Có tính chất ít nghiêm trọng và răn đe hơn biện pháp tạm giam;

– Đối tượng áp dụng của biện pháp bảo lãnh là bị can hoặc bị cáo;

– Việc thực hiện bảo lãnh chỉ được áp dụng khi có sự đồng ý của các cơ quan tiến hành tố tụng sau khi có các căn cứ và đảm bảo các điều kiện nhất định và được thực hiện theo thủ tục luật định;

– Mục đích của biện pháp bảo đảm bao gồm: nhằm đảm bảo không để bị can hoặc bị cáo tiếp tục phạm tội; cản trở cơ quan chức năng tiến hành điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo sự có mặt trong quá trình tiến hành tố tụng.

Thứ hai, điều kiện bảo lãnh tại ngoại:

Bị can muốn được bảo lãnh phải được Cơ quan điều tra, Tòa án hoặc Viện kiểm sát ra quyết định đồng ý cho họ được bảo lãnh dựa trên yêu cầu của nhân thân. Căn cứ để ra quyết định cho phép bảo lãnh dựa vào các tiêu chí như sau:

– Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền ra quyết định bảo lãnh căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi để phân ra các loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Luật không quy định cụ thể phạm tội ở mức độ nào thì sẽ được bảo lãnh tại ngoại, tuy nhiên trên thực tế việc biện pháp bảo lãnh thường chỉ được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng và có một số trường hợp mức độ nguy hiểm cho xã hội là ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng trong một số tội như liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia; an toàn, trật tự xã hội,… cơ quan tiến hành tố tụng cũng không đồng ý bảo lãnh.

– Nhân thân của người bảo lãnh:

Các bị can, bị cáo muốn được bảo lãnh tại ngoại thì thân nhân, người đứng ra bảo lãnh phải đảm bảo các điều kiện được quy định như sau:

+ Về độ tuổi: Là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi hình sự đầy đủ.

+ Có nhân thân tốt: Nhân thân được thể hiện trong lý lịch cá nhân và các giấy tờ, tài liệu khác liên quan. Nhân thân tốt ở đây có thể là có công việc ổn định lâu dài; trước đây chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính; không phải là đối tượng thường gây rối mất trật tự tại địa phương; có thành tích được ghi nhận trong đời sống và công việc;…

+ Ý thức pháp luật: Người bảo lãnh phải là người có ý thức chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh;

+ Thu nhập: Người bảo lãnh phải có nguồn thu nhập ổn định;

+ Các điều kiện khác: Phải đảm bảo các điều kiện về việc quản lý bị can, bị cáo trong qúa trình bảo lãnh.

Đối với cá nhân đứng ra bảo lãnh cho người khác mà là người thân tích của bị can, bị cáo thì phải có hai người bảo lãnh trở lên.

Tổ chức, cơ quan cũng có thể đứng ra bảo lãnh cho người thuộc cơ quan, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý của mình.

Thứ ba, hồ sơ bảo lãnh tại ngoại:

Người thực hiện thủ tục bảo lãnh chuẩn bị 01 bộ hồ sơ bao gồm các giấy tờ, tài liệu sau:

– Giấy cam đoan của người bảo lãnh:

Trong trường hợp cơ quan, tổ chức nhận bảo lãnh cho người thuộc đơn vị của mình thì giấy cam đoan phải có nội dung xác nhận của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đó.

– Giấy cam đoan của bị can, bị cáo:

Giấy cam đoan của bị can, bị cáo phải đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ như sau:

+ Cam đoan không tiếp tục phạm tội hoặc không bỏ trốn khỏi nơi cư trú;

+ Cam đoan có mặt đúng thời gian, địa điểm theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên có thể vắng mặt nếu có lý do chính đáng hoặc do nguyên nhâ, trở ngại khách quan;

+ Cam đoan không thực hiện các hành vi sau đây: Không được trả thù, đe dọa hay khống chế những người làm chứng, người bị hại, người tố giác tội phạm và những người thân thích của những người đó. Không được xúi giục, mua chuộc hay khống chế người khác khai báo thông tin gian dối, cung cấp những tài liệu hoặc bằng chứng sai sự thật khách quan và cam kết không tiêu hủy chứng cứ, làm giả chứng cứ, tài liệu vụ án, tẩu tán các tài sản liên quan đến vụ án này.

Thứ tư, thẩm quyền và thủ tục bảo lãnh:

– Thẩm quyền bảo lãnh:

Người có thẩm quyền ra quyết định bảo lãnh được quy định tại khoản 1 Điều 113 và khoản 4 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 bao gồm:

+ Trong giai đoạn điều tra: Thủ trưởng, các Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp huyện, cấp tỉnh.

+ Trong giai đoạn truy tố: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

+ Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: Chánh án, các Phó Chánh án Tòa án nhân dân các cấp và Chánh án, các Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp;

+ Trong giai đoạn xét xử: Hội đồng xét xử vụ án của bị can, bị cáo hoặc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

– Thủ tục bảo lãnh:

Thủ tục bảo lãnh được pháp luật tố tụng hình sự quy định như sau:

+ Đầu tiên người bảo lãnh và bị can, bị cáo viết giấy cam đoan và tiến hành xác nhận trong các trường hợp cần xác nhận;

+ Nộp giấy cam đoan cho cơ quan có thẩm quyền;

+ Cơ quan có thẩm quyền xem xét, ra quyết định bảo lãnh;

+ Gửi quyết định bảo lãnh tới nơi đang tạm giam bị can, bị cáo để cho bị can, bị cáo tại ngoại.

Thứ năm, thời gian tại ngoại:

Thời hạn bảo lãnh cho bị can, bị cáo tại ngoại luật định không được quá khoảng thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử. Riêng đối với thời gian tại ngoại của người bị kết án phạt tù sẽ không quá thời hạn kể từ thời điểm tuyên án cho đến thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt tù.

Ví dụ:

Ngày 01/12/2018 Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội tuyên bị cáo Nguyễn Văn A mức phạt là 06 tháng tù giam, thời gian bắt đầu chấp hành bản án là từ ngày 01/02/2019. Như vậy thời gian tại ngoại của anh Nguyễn Văn A chỉ có thể từ ngày 01/12/2018 cho đến trước ngày 01/02/2019.

Lưu ý:

– Quyết định bảo lãnh của người có thẩm quyền trong giai đoạn điều tra phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

– Nếu người bảo lãnh, các cơ quan, tổ chức nhận bảo lãnh mà để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ đã nêu trong bản cam đoan thì sẽ bị xử phạt mức tiền theo từng tính chất, từng mức độ vi phạm.

(theo Luật Minh Khuê)

 

 

Share on facebook
Facebook
Share on google
Google+
Share on twitter
Twitter
Share on linkedin
LinkedIn
Share on pinterest
Pinterest
Scroll to Top